Application of mathematical programming for optimal programming of Vietnamese fishing fleet
- Faculty of Transportation Engineering, Nha Trang University
Abstract
The Vietnamese fishing fleet has been developing spontaneously without programming and control. It has bring about detrimental effect on the operate of fishing fleet, especially with a serious impact on the resources. The programming of the fishing fleet, that has been set up by the our fisheries authority, but so far there is no satisfactory solution for the complexity of the problem. In this paper, we present the research results of the application of mathematical programming to build a mathematical model, algorithms and programming to solve the programing problem for Vietnamese fishing fleet. This is base to determine optimal size and distribution of specific fishing fleet to achieve the highest profit with the economic, technical and fishing ground constrains with the aim of ensuring the fishing sustainable development. This research have been applied to learn the concrete conclusions regarding optimal size and dítribution under power, fishing gear and ground of fishing fleet in Ninh Thuan province. The results show that the mathematical programming model has been well suited to the reality. It is required to decrease the size of small power fishing boat fleet that exploits in coastal areas and increse the size of high power fishing boat fleet that exploits in offshore areas.
GIỚI THIỆU
Với bờ biển dài gần 3.000 km, cùng nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng nên ngành thủy sản nói chung và đội tàu khai thác nói riêng có vai trò quan trọng đối với đất nước. Tuy vậy đội tàu khai thác nước ta hiện rất yếu kém, với đa số là tàu nhỏ, thiết bị thô sơ và thiếu đồng bộ, phương thức bảo quản lạc hậu, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch đến (20 – 30)% 1. Đặc biệt, do thiếu quy hoạch và kiểm soát của cơ quan quản lý nên đội tàu khai thác phát triển tự phát, cơ cấu chưa hợp lý dẫn đến số lượng tàu đánh bắt vượt nhiều so với trữ lượng hiện có làm nguồn lợi hải sản, nhất là vùng ven bờ bị khai thác quá mức làm suy giảm và cạn kiệt nguồn lợi ở nhiều năm qua. Các nghề ảnh hưởng lớn nguồn lợi như lưới kéo, pha xúc… vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong khi trữ lượng không đáp ứng làm nguồn lợi và năng suất đánh bắt giảm, do đó cần nghiên cứu mô hình quy hoạch tối ưu đội tàu để tránh tình trạng năng lực khai thác quá thừa hoặc quá thiếu và vẫn bảo vệ nguồn lợi để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững cho nghề cá cụ thể. Bài toán quy hoạch đội tàu khai thác, mặc dù đã được cơ quan quản lý nghề cá nước ta đặt ra từ lâu nhưng hiện vẫn chưa có lời giải thỏa đáng vì sự phức tạp cả về lý thuyết và thực tiễn. Ở các nước phát triển, mặc dù bài toán cũng được giải quyết2 nhưng thực tế vẫn không thể áp dụng cho đội tàu khai thác nước ta với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu và sở hữu tư nhân. Do đó những nghiên cứu có liên quan đến mô hình quy hoạch đội tàu khai thác ở nước ta vẫn chỉ dựa trên số liệu thống kê mang tính chất định tính, chưa dựa trên cơ sở khoa học3, 1.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung quy hoạch đội tàu khai thác thủy sản là xác định số lượng (quy mô đội tàu) tối ưu và dựa trên cơ sở đó xác định cơ cấu hợp lý của đội tàu, tức phân bố số lượng tàu theo nghề, công suất, ngư trường, mùa vụ phù hợp với một ghề cá cụ thể, đảm bảo lợi nhuận thu được của các tàu đánh bắt là cao nhất trong các điều kiện ràng buộc về mặt kinh tế, kỹ thuật và nguồn lợi nhằm phát triển bền vững nghề cá đang xét3, 2. Về mặt phương pháp, bài toán được giải quyết dựa trên cơ sở ứng dụng lý thuyết về toán tối ưu để xây dựng mô hình toán, với giá trị hàm mục tiêu và các điều kiện ràng buộc phù hợp thực tế của đội tàu khai thác thủy sản ở nước ta hiện nay, từ đó xây dựng giải thuật và lập trình giải bài toán tìm lời giải tối ưu của bài toán về số lượng và cơ cấu nghề đội tàu khai thác4.
Mô hình bài toán quy hoạch đội tàu khai thác Việt Nam
Tương tự bài toán tối ưu tổng quát, bài toán quy hoạch tối ưu đội tàu khai thác cũng gồm các thành phần là dữ liệu đầu vào (kể cả biến quết định), hàm mục tiêu, điều kiện ràng buộc 4. Đối với bài toán quy hoạch tối ưu đội tàu khai thác thủy sản, các thành phần nêu trên được xác định như sau 3.
Các dữ liệu đầu vào
Với bài toán quy hoạch tối ưu đội tàu khai thác thủy sản, các dữ liệu đầu vào của mô hình được chia thành các nhóm thông số như sau.
Các chỉ số của mô hình
Chỉ số mô hình là thông số đầu vào quan trọng, gồm các yếu tố tác động đến hoạt động của đội tàu. Thực tế cho thấy, hoạt động của một đội tàu khai thác thủy sản phụ thuộc vào các yếu tố chính bao gồm đội tàu (nghề nghiệp) (i), nhóm công suất (j), loài đánh bắt (s), loài mục tiêu (k), ngư trường đánh bắt (l) và mùa vụ khai thác (m), cụ thể như sau 3.
- Đội tàu (i) là tập hợp các tàu có kích thước và cấu trúc gần giống nhau; sử dụng cùng ngư cụ và kỹ thuật khai thác; hoạt động cùng ngư trường và đánh bắt cùng đối tượng. Do đội tàu nước ta gồm các tàu làm nhiều nghề khác nhau nên việc phân theo nghề là cần thiết khi xây dựng mô hình quy hoạch đội tàu khai thác.
- Phân nhóm công suất (j) được đưa vào mô hình như là thông số để đánh giá kích cỡ của con tàu. Theo quy định ở nước ta hiện nay, đội tàu khai thác thủy sản được chia ra 06 nhóm công suất: < 20 CV, (20 – 49) CV, (50 – 89) CV, (90 – 249) CV, (250 – 399) CV, 400 CV.
- Loài mục tiêu (k) chính là đối tượng đánh bắt của đội tàu khai thác, được xác định như là chỉ số mô hình vì việc chọn loài mục tiêu là chiến lược đánh bắt của ngư dân. Loài (s) là tập hợp cá thể có khả năng kết đôi, sinh sản và là đơn vị phân loại khi đề cập đến biến động của nguồn lợi.
- Ngư trường đánh bắt (l) là biến không gian ảnh hưởng lớn đến mô hình quy hoạch đội tàu khai thác vì các điều kiện hạn chế với đội tàu như chiều dài tàu, dự trữ nhiên liệu… sẽ giới hạn ngư trường, tâm lý ngư dân thích đánh khu vực nhất định, khoảng cách ngư trường ảnh hưởng chi phí … Quy định nước ta chia khu vực khai thác thủy sản thành 3 vùng: (i) vùng ven bờ giới hạn bởi mép nước tại bờ biển và tuyến bờ, (ii) vùng lộng giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng và (iii) vùng khơi giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế biển Việt Nam, trong đó vùng được phép khai thác sẽ phụ thuộc công suất máy gồm tàu trên 90 CV chỉ được khai thác vùng khơi, vùng biển cả; tàu từ (20 – 90) CV chỉ được khai thác vùng lộng và khơi; tàu dưới 20 CV hay không lắp máy khai thác vùng ven bờ.
Thông số khai thác của đội tàu
Thông số khai thác có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong quản lý đội tàu, gồm nhiều chỉ tiêu nhưng quan trọng nhất là cường lực khai thác E (Fishing Effort) và năng suất khai thác CPUE (Catch Per Unit Effort).
- Cường lực khai thác là toàn bộ các yếu tố đầu vào cần thiết để thực hiện hoạt động đánh bắt thủy sản bao gồm con tàu, đội ngũ lao động, ngư cụ, thời gian, tiền trả các chi phí… Trong mô hình quy hoạch đội tàu, E được tính bằng số lượng tàu hay số lượng chuyến biển của đội tàu khai thác, xác định theo 5 chỉ số mô hình đã nêu để phản ánh các biến đổi trong hoạt động nghề cá do cỡ loại tàu, thiết bị, ngư trường, mùa vụ, động lực của ngư dân…
- CPUE được xác định khác nhau tùy vào mục đích sử dụng. Ở nghiên cứu này, CPUE được tính bằng tổng sản lượng khai thác của tất cả loài đối tượng đánh bắt (theo mục tiêu hoặc không theo mục tiêu), tính trong một ngày đi biển. Khi đó, CPUE (kg/ngày) của tàu thứ n có trong đội tàu đang xét được tính theo công thức:
trong đó Q - tổng sản lượng khai thác của 1 chuyến biển (kg); E - cường lực khai thác, chính là thời gian khai thác (hay số ngày khai thác) trong 1 chuyến biển (ngày)
Thông số kinh tế: dùng để tính lợi nhuận của đội tàu.
- Chi phí đội tàu gồm chi phí cố định C (vốn đầu tư ban đầu, khấu hao, bảo dưỡng, sửa chữa, bảo hiểm, thuế...) tính cho 1 năm và chi phí biến đổi C (mua dầu, nhớt, đá, lương thực, sửa chữa nhỏ, lương thủy thủ, lệ phí cảng…) tính theo từng chuyến biển.
- Thời gian chuyến biển t tính từ lúc tàu chạy từ bờ ra ngư trường đến khi đưa sản phẩm về cảng, bốc dỡ cá lên bờ, chuẩn bị cho chuyến biển tiếp theo.
- Thu nhập của chủ tàu và thủy thủ chia theo chuyến biển với tỷ lệ ăn chia giữa chủ tàu và thủy thủ là 5:5 hay 6:4, sau khi trừ tất cả các chi phí. Phần chia cho chủ tàu còn được dùng để trả chi phí cố định của tàu.
(d) Thông số thị trường: gồm giá bán cá và giá mua nguyên vật liệu phục vụ chuyến biển.
Hàm mục tiêu
Đội tàu khai thác nước ta thuộc quyền sở hữu ngư dân nên mong muốn của họ là lợi nhuận (hay số chuyến biển) lớn nhất. Do đó với các chỉ số mô hình đã chọn, hàm mục tiêu bài toán quy hoạch đội tàu, bao gồm các biểu thức toán về lợi nhuận và số lượng chuyến biển của đội tàu khai thác như sau:
Lợi nhuận
(b) Số lượng chuyến biển
+ Các biến số
- lãi ròng chuyến biển của đội tàu (i), nhóm công suất (j), bắt loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) được tính bằng tiền thu được khi bán toàn bộ sản lượng trừ cho chi phí biến đổi (chi phí chuyến biển) của tàu (VNĐ)
- số lượng chuyến biển của đội tàu (i), nhóm công suất (j), đánh loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) (chuyến); - số lượng tàu hoạt động hàng năm của đội tàu (i), nhóm công suất (j) (chiếc).
+ Các tham số
- tiền lương dự kiến mỗi ngày trên biển của thủy thủ đoàn đội tàu (i), nhóm công suất (j) (VNĐ/ngày); - thời gian chuyến biển (số ngày trên biển) (ngày/chuyến); - chi phí cố định của đội tàu (i), nhóm công suất (j) (VNĐ); - chi phí biến đổi của đội tàu (i), nhóm công suất (j), bắt loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) (VNĐ); - giá báloài hải sản (s), đánh bởi đội tàu (i), trong mùa vụ (m) (VNĐ/tấn).
Các điều kiện ràng buộc
Về sản lượng khai thác cho phép
Để phát triển bền vững, giới hạn quy mô đội tàu sao cho tổng sản lượng đánh bắt của đội tàu không vượt quá sản lượng khai thác tối đa ở khu vực và mùa vụ nhất định, tức là
+ Biến số: sản lượng khai thác loài (s) của đội tàu (i), nhóm công suất (j), loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) tương ứng với cường lực đã cho (tấn/ngày).
+ Tham số: - thời gian đánh bắt trong 1 chuyến biển của đội tàu (i), nhóm công suất (j), bắt loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) (ngày); - sản lượng đánh bắt tối đa loài hải sản (s), khu vực (l), mùa vụ (m) (tấn)
Về số lượng và lợi nhuận chuyến biển
Mối quan hệ giữa số lượng tàu (quy mô) và số lượng chuyến biển của các tàu tính cho cả năm xác định thông qua các biểu thức toán thể hiện các điều kiện ràng buộc như sau.
- Số lượng chuyến biển tối đa của một tàu thay đổi tùy theo đội tàu (i), nhóm công suất (j), loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) nhỏ hơn giá trị giới hạn do hạn chế sức chứa, thời gian bảo quản hải sản trên tàu, khoảng cách ngư trường, thời gian mùa vụ:
- Số lượng tàu đang hoạt động của đội tàu (i), nhóm công suất (j), bắt loài mục tiêu (k), khu vực (l) không vượt giới hạn nhất định, có thể thay đổi theo mùa vụ (m)
- Số lượng tàu lớn nhất của đội tàu (i), nhóm công suất (j) tính cho cả năm phải lớn hơn số lượng tàu của đội tàu (i), nhóm công suất (j), tính trong một mùa vụ (m):
- Lãi ròng của đội tàu (i) phải luôn dương.
- Số lượng tàu V của đội tàu (i) đảm bảo sao cho thu nhập chủ tàu lớn hơn chi phí cố định hàng năm của đội tàu xét.
- Phần chia thuỷ thủ đoàn phải thỏa mãn mức lương mong đợi
+ Biến số: số tàu của đội tàu (i), nhóm công suất (j), loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) (chiếc); - số tàu của đội tàu (i), nhóm công suất (j), mùa vụ (m) (chiếc).
+ Tham số: số lượng chuyến biển tối đa của một tàu trong đội tàu (i), nhóm công suất (j), loài mục tiêu (k), khu vực (l), mùa vụ (m) (chuyến); - phần chia lãi ròng cho chủ tàu và thuỷ thủ của đội tàu (i), nhóm công suất (j).
Ràng buộc về chính sách
Tùy theo tình hình thực tế của từng quốc gia, địa phương, ràng buộc về chính sách (nếu có) được đưa ra nhằm hạn chế phát triển những nghề khai thác mang tính hủy diệt nguồn lợi Ví dụ, ở Ninh Thuận, ngoài nghề lưới kéo gây ảnh hưởng xấu nguồn lợi thì một số ngư dân thiếu ý thức đã phát triển nghề vây rút mùng mang tính hủy diệt nguồn lợi do dùng thuốc nổ và loại ngư cụ có mắt lưới nhỏ hơn qui định nên cần ràng buộc nhằm hạn chế phát triển đội tàu làm các nghề này như sau.
- Tổng số tàu làm nghề lưới kéo có công suất (90 – 249) CV, (250 – 399) CV khai thác vụ Nam bằng 0.
- Số lượng tàu làm nghề lưới kéo và vây rút mùng năm sau nhỏ hơn hoặc bằng năm trước.
– lần lượt là số lượng tàu của đội tàu lưới kéo thuộc nhóm công suất (j) và các nhóm (90- 249) CV, (250 – 399) CV hoạt động trong vụ Nam (chiếc); - tổng số tàu hiện tại hàng năm của các đội tàu lưới kéo và vây rút mùng, nhóm công suất (j) (chiếc); - tổng số tàu tối ưu của đội tàu lưới kéo và vây rút mùng nhóm công suất (j) (chiếc).
Giải thuật và lập trình giải bài toán quy hoạch tối ưu cho đội tàu khai thác
Với mô hình của bài toán tối ưu đã xác lập trong phần trên, tiến hành xây dựng giải thuật và lập trình tìm lời giải tối ưu cho bài toán để xác định số lượng tàu (quy mô đội tàu) tối ưu. Sau đó tăng dần số lượng chuyến biển của đội tàu có lợi nhuận cao nhất đến khi đạt sản lượng khai thác tối đa cho phép của đội tàu đang tính với loại hải sản đang đánh thì dừng lại chuyển sang tính tương tự đội tàu khác sẽ nhận được phân bố tối ưu số lượng tàu theo nghề, khu vực và mùa vụ (Figure 1) 5. Nhờ sử dụng điều kiện dừng hàm mục tiêu là tổng sản lượng đánh bắt của toàn đội tàu nên kết quả xác định nghiệm tối ưu của bài toán đảm bảo tính toàn cục chứ không tối ưu cục bộ. Mô hình quy hoạch đội tàu khai thác thủy sản như đã nêu là bài toán quy hoạch phi tuyến đa cấp và đa mục tiêu, trong đó đa mục tiêu là cần vì các chính sách quản lý nghề cá được đặc trưng bởi nhiều mục tiêu khác nhau, mà người ra quyết định đều mong đạt đến mức độ tối ưu nhất, còn nội dung đa cấp là sự kết hợp giữa mục tiêu của nhà quản lý – người hoạch định chính sách và ngư dân – người thực thi các chính sách đưa ra. Do tính chất phức tạp và số lượng biến lớn (gần 600 biến)3, chúng tôi giải bài toán tối ưu theo thuật toán di truyền GA (Genetic Algorithm) – thuật toán tìm lời giải tối ưu hiệu quả được ứng dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực, nhất là với bài toán có nhiều biến và quy mô quá lớn như bài toán đang khảo sát. Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi đã lập trình xây dựng mô hình và tìm lời giải bài toán tối ưu trên phần mềm GAMS (General Algebraic Modeling System) của công ty cổ phần GAMS phát triển năm 1996, trong đó có sử dụng phần mềm Microsoft Excel của Microsoft để quản lý các cơ sở dữ liệu và lời giải xuất ra từ chương trình5.

Sơ đồ giải thuật giải bài toán quy hoạch đội tàu khai thác thủy sản để xác định số lượng và phân bố tối ưu của đội tàu thác thủy sản.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nghề cá ở tỉnh Ninh Thuận – địa phương nghề cá khu vực miền Trung Việt nam để thu thập các dữ liệu thực tế của các thông số đầu vào để vận hành mô hình và chạy kiểm tra chương trình, nhận được các kết quả cụ thể như sau.
Năng lực và cơ cấu của đội tàu khai thác Ninh Thuận
Theo số liệu thống kê ở Table 1, giai đoạn từ 2005 đến 2012, năng lực đội tàu cá Ninh Thuận thay đổi theo hướng tăng nhanh số lượng tàu công suất dưới 20 CV và tàu công suất trên 90 CV, chứng tỏ hoạt động khai thác của ngư dân Ninh Thuận chủ yếu vẫn diễn ra ở các vùng biển ven bờ. Từ năm 2012 đến 2016, năng lực đội tàu thay đổi theo hướng tích cực khi tăng mạnh số tàu trên 400 CV, số lượng tàu cá dưới 20 CV hoạt động ven bờ từ 1.396/2,580 tàu ở năm 2012 (chiếm tỷ lệ 54,1%) giảm xuống 1.168/2.706 tàu ở năm 2016 (chiếm tỷ lệ 37,4%) tổng số tàu cá toàn tỉnh, chứng tỏ hoạt động khai thác của ngư dân ở tỉnh Ninh Thuận thời gian qua chuyển từ vùng ven bờ ra xa bờ. Nhìn chung, đội tàu khai thác hải sản của tỉnh cũng phát triển tự phát, công nghệ đánh bắt lạc hậu nên không thể đánh xa bờ và với số lượng tàu cá có công suất dưới 20 CV chiếm 47,2% tổng số tàu cá toàn tỉnh nên nghề cá Ninh Thuận được xem là chậm phát triển hơn so với các tỉnh trong khu vực.
Năng lực và cơ cấu đội tàu khai thác Ninh Thuận
| TT | Danh mục | Đơn vị | Số lượng tàu (chiếc) | ||
| 2005 | 2012 | 2016 | |||
| I. Cơ cấu nghề | |||||
| 1 | Lưới kéo | chiếc | 148 | 135 | 132 |
| 2 | Vây rút chì | chiếc | 262 | 181 | 217 |
| 3 | Rê nylon | chiếc | 566 | 1.128 | 612 |
| 4 | Câu các loại | chiếc | 153 | 268 | 694 |
| 5 | Pha xúc | chiếc | 388 | 508 | 606 |
| 6 | Nghề khác | chiếc | 281 | 368 | 445 |
| 7 | Dịch vụ hậu cần | chiếc | 12 | 20 | 50 |
| II. Tổng số tàu cá | chiếc | 1.810 | 2.608 | 2.706 | |
| 8 | Tổng công suất | CV | 83.500 | 198.349 | 312.272 |
| 9 | Công suất bình quân | CV/chiếc | 46,1 | 76,8 | 115,4 |
| III. Phân nhóm công suất | |||||
| 10 | < 20 | CV | 818 | 1.396 | 1.168 |
| 11 | (20 ¸ 49) | CV | 495 | 429 | 398 |
| 12 | (50 ¸ 89) | CV | 218 | 225 | 173 |
| 13 | (90 ¸ 249) | CV | 251 | 284 | 431 |
| 14 | (250 ¸ 399) | CV | 24 | 199 | 368 |
| 15 | ≥ 400 | CV | 4 | 47 | 168 |
Xây dựng dữ liệu đầu vào
Các chỉ số mô hình
Đội tàu (i)
Từ Table 1, chia đội tàu khai thác ở Ninh Thuận ra 6 đội: Đội 1: Lưới kéo; Đội 2: Lưới vây; Đội 3: Lưới rê cước; Đội 4: Câu các loại; Đội 5: Pha xúc; Đội 6: Nghề khác (lặn, lồng bẫy)
Phân nhóm công suất (j)
Theo như quy định chung, phân đội tàu khai thác thủy sản ở tỉnh Ninh Thuận thành 04 nhóm theo công suất, gồm nhóm 1: < 20CV; nhóm 2: (20 – 49) CV, nhóm 3: (50 - 89)CV, nhóm 4: (90 - 249)CV, nhóm 5: (250 - 399)CV, nhóm 6: 400CV.
Loài mục tiêu (k) và loài khai thác (s)
Đội tàu Ninh Thuận đánh bắt chính ở biển Đông Nam Bộ, vùng biển chiếm 11% tổng sản lượng hải sản đánh bắt cả nước Kết quả điều tra, khảo sát nhật ký khai thác cho thấy đội tàu khai thác ở vùng biển Ninh Thuận đánh bắt 14 loài chính gồm Tôm, Cá Phèn, Cá Mối, Mực ống, Cá Mú, Cá Hồng, Cá Nục, Cá Ngừ, Thu, Cá Cơm, Cá Trác, Mực khơi, Cá Đổng, Bạc Má.
Ngư trường đánh bắt (l) và mùa vụ khai thác (m)
Ngư trường đánh bắt của đội tàu khai thác Ninh Thuận là ở biển miền Trung và Đông Nam Bộ và cũng được phân thành 3 khu vực khai thác là vùng ven bờ, vùng lộng, vùng khơi. Mùa vụ khai thác được chia thành hai vụ chính:
- Vụ cá Bắc: bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, cùng với gió mùa Đông Bắc.
- Vụ cá Nam: bắt đầu từ tháng 4 cho đến tháng 9 hàng năm, cùng với gió mùa Tây Nam.
Các thông số khai thác của đội tàu
Trong nghiên cứu này, xác định các thông số khai thác của đội tàu theo ý nghĩa như sau:
- Cường lực khai thác E tính bằng số lượng tàu (số chuyến biển) của đội tàu khai thác (i), nhóm công suất (j), bắt loài mục tiêu (k), khu vực khai thác (l), trong mùa vụ (m).
- Năng suất khai thác theo ngày CPUE được tính bằng tổng sản lượng đánh bắt tất cả loài đối tượng khai thác của 1 tàu tính trong 1 ngày đi biển, được khảo sát thực tế.
Các thông số kinh tế của đội tàu khai thác
Kết quả điều tra, khảo sát nhận được số liệu thực tế về các thông số kinh tế của đội tàu khai thác tỉnh Ninh Thuận gồm chi phí, thời gian chuyến biển, thu nhập chủ tàu và thủy thủ.
Các yếu tố của thị trường
Các yếu tố thị trường gồm giá mua bán cá và nguyên vật liệu phục vụ chuyến biển được điều tra thực tế vào 3/2017.
Các số liệu điều tra, khảo sát thực tế như đã nêu ở phần trên đối với nghề cá tỉnh Ninh Thuận được nhóm thực hiện đề tài thực hiện trong thời gian từ 1/2017 đến 3/2017 và được cho dưới dạng các bảng trong tài liệu 5.
Kết quả chạy chương trình quy hoạch tối ưu
Với số liệu đầu vào của nghề cá Ninh Thuận như đã nêu, tiến hành chạy chương trình quy hoạch tối ưu đội tàu khai thác theo 2 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: xác định cường lực khai thác, tức số lượng tàu (hay số chuyến biển) và phân bố nó theo khu vực và mùa vụ
- Giai đoạn 2: dựa vào dữ liệu để xác định sản lượng đánh bắt và lợi nhuận của chủ tàu và thu nhập thực tế của thủy thủ.
Kết quả xuất ra
Kết quả vận hành mô hình cho phép thu được các kết quả cụ thể như sau.
Lợi nhuân và tổng số lượng tàu tối ưu
Kết quả tính lợi nhuận, số lượng tàu (số lượng chuyến biển) tối ưu của đội tàu khai thác Ninh Thuận được cho ở Table 2, với biểu đồ so sánh cơ cấu đội tàu khai thác ở Ninh Thuân năm 2016 và sau khi chạy chương trình quy hoạch (Figure 2)3
Bảng tính tổng hợp các thông số chuyến biển của đội tàu khai thác thủy sản ở Ninh Thuận
| Đội tàu | Số lượng tàu (chiếc) | Số lượng chuyến biển(chuyến) | Số lượng tàu (chiếc) | Số lượng chuyến biển (chiếc) | Tổng doanh thu (tr. đ) | Các chi phí của đội tàu (tr.đồng) | Tổng lãi ròng (tr.đồng) | ||||
| Vụ Bắc | Vụ Nam | Vụ Bắc | Vụ Nam | Biến đổi | Cố định | Tổng | |||||
| Lưới kéo | 69 | 14.884 | 69 | 69 | 7.439 | 7.445 | 127.555 | 38.038 | 13.688 | 51.726 | 89.517 |
| Lưới vây | 133 | 7.175 | 133 | 128 | 3.688 | 3.487 | 245.202 | 75.735 | 32.839 | 108.574 | 169.467 |
| Lưới rê cước | 782 | 83.561 | 701 | 782 | 39.771 | 43.790 | 1.432.876 | 626.631 | 165.016 | 791.647 | 806.245 |
| Câu các loại | 811 | 128.189 | 811 | 808 | 81.832 | 46.357 | 1.081.218 | 583.636 | 183.433 | 767.069 | 497.582 |
| Pha xúc | 236 | 19.177 | 236 | 236 | 10.321 | 8.856 | 703.467 | 264.272 | 90.738 | 355.010 | 439.195 |
| Nghề khác | 284 | 78.800 | 264 | 284 | 37.950 | 40.850 | 343.179 | 49.956 | 24.185 | 74.141 | 293.223 |
| Tổng | 2.315 | 331.786 | 2.214 | 2.307 | 181.000 | 150.785 | 3.933.497 | 1.638.269 | 509.898 | 2.148.167 | 2.295.228 |

Biểu đồ so sánh số lượng tàu 3/2017 và số lượng tàu tối ưu của đội tàu khai thác tỉnh Ninh Thuận sau quy hoạch.
Điều chỉnh cơ cấu đội tàu khai thác Ninh Thuận
Thực tế cho thấy, đội tàu đánh bắt ở hầu hết địa phương nghề cá nước ta đều phát triển tự phát, thiếu sự kiểm soát chặt nên làm gia tăng số lượng tàu công suất nhỏ, đánh bắt ven bờ hoặc làm các nghề gây ảnh hưởng nguồn lợi, dẫn đến số lượng tàu đánh bắt thủy sản đều vượt so với quy hoạch về nguồn lợi. Do đó, để nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản, các cơ quan quản lý nghề cá nước ta cần nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch đội tàu đánh bắt nói chung và quy hoạch cơ cấu nghề khai thác nói riêng theo đúng tình hình thực tế nghề cá ở các địa phương. Vì vậy, vấn đề điều chỉnh hợp lý cơ cấu cho đội tàu khai thác có vai trò, ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết đối với sự phát triển ổn định và bền vững cho nghề cá các địa phương. Hướng chủ đạo của việc điều chỉnh cơ cấu là giảm dần những tàu công suất nhỏ, khai thác ven bờ, làm các nghề khai thác xâm hại nguồn lợi và môi trường sinh thái, gia tăng đội tàu công suất trên 400CV để phát triển đội tàu đi đánh bắt xa bờ.
Từ việc chạy chương trình giải bài toán tối ưu nêu trên, với các dữ liệu đầu vào thực tế liên quan đến đặc điểm nghề cá của tỉnh Ninh Thuận có thể xác định được cơ cấu tối ưu của đội tàu khai thác tỉnh Ninh Thuận theo nhóm công suất, nghề khai thác và khu vực đánh bắt dưới dạng các biểu đồ xuất từ chương trình như trình bày trên Figure 33.

Các biểu đồ cơ cấu tối ưu của đội tàu khai thác thủy sản tỉnh Ninh Thuận phân theo nhóm công suất, nghề nghiệp, khu vực và mùa vụ đánh bắt.
Mô hình quy hoạch đội tàu được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết toán tối ưu, với hàm mục tiêu về lợi nhuận và các điều kiện ràng buộc về kinh tế, kỹ thuật và chính sách quản lý. Kết quả tính từ mô hình và chương trình quy hoạch tối ưu cho đội tàu khai thác của tỉnh Ninh Thuận đã cho thấy sự phù hợp của mô hình lý thuyết với thực tế trên cơ sở các kết quả sau.
- Cơ cấu đội tàu khai thác thủy sản Ninh Thuận theo nhóm công suất là hợp lý khi có sự điều chỉnh rõ về công suất, với việc giảm mạnh các đội tàu có công suất vừa và nhỏ, cụ thể như giảm đến 38% đội tàu công suất dưới 50 CV, cùng việc tăng mạnh các đội tàu công suất lớn, đánh bắt xa bờ, cụ thể tăng 9% đội tàu công suất trên 400 CV.
- Cơ cấu nghề của đội tàu khai thác được điều chỉnh theo hướng giảm mạnh các nghề gây xâm phạm nguồn lợi hoặc có hiệu quả kinh tế thấp, cụ thể như giảm mạnh đội tàu lưới vây (giảm 67%) do điều kiện ràng buộc giảm mạnh đội tàu nghề vây rút mùng, tiếp theo là đội tàu làm các nghề pha xúc (giảm 61%), nghề lưới kéo (giảm 45%) do hủy hoại nguồn lợi thủy sản và đội tàu làm nghề khác (giảm 43%) như lặn, lồng bẫy do hiệu quả kinh tế thấp. Đồng thời tập trung phát triển các đội tàu làm các nghề khai thác có hiệu quả kinh tế cao, như đội tàu nghề lưới rê cước tăng thêm 28%, đội tàu câu các loại tăng 17%.
- Như đã nhận xét ở trên, cơ cấu nghề khai thác thủy sản ở nước ta khá đa dạng với nhiều nghề hiệu quả kinh tế cao như vây, rê, chụp mực… nhưng cũng có khá nhiều nghề gây nguy hại nguồn lợi như kéo, mành đèn, pha xúc..., cùng với thiếu sự kiểm soát chặt của cơ quan quản lý nên số tàu công suất nhỏ tăng, dẫn đến cường lực khai thác vùng ven bờ lớn khiến cho nguồn lợi bị giảm rất mạnh. Do đó việc điều chỉnh cơ cấu và năng lực đánh bắt của đội tàu cũng là giải pháp bảo vệ nguồn lợi quan trọng.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã xây dựng mô hình, giải thuật và chương trình giải bài toán quy hoạch tối ưu đội tàu khai thác phù hợp với đặc thù nghề cá Việt Nam nói chung và của tỉnh Ninh Thuận nói riêng, đảm bảo lợi nhuận đội tàu khai thác là lớn nhất trong các ràng buộc về hiệu quả kinh tế, xã hội và nguồn lợi nhằm phát triển ổn định và bền vững cho nghề cá. Với dữ liệu đầu vào của mô hình có liên quan trực tiếp đến nghề cá một địa phương, gồm năng suất khai thác CPUE của các đội tàu khai thác, các thông số kinh tế (tổng chi phí cho đội tàu, thời gian chuyến biển và thu nhập của thủy thủ đoàn) và các yếu tố thị trường (giá mua bán các sản phẩm khai thác và nguyên vật liệu), kết quả đầu ra sẽ là số lượng và cơ cấu nghề hợp lý của đội tàu khai thác ở địa phương phân bố theo nghề, nhóm công suất, mùa vụ đánh bắt và khu vực khai thác. Kết quả này sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để cơ quan quản lý nghề cá nước ta tiến hành sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu đội tàu khai thác theo nghề, nhóm công suất, mùa vụ và khu vực đánh bắt, theo hướng giảm bớt số lượng các tàu có công suất nhỏ khai thác ven bờ và phát triển đội tàu công suất lớn đánh xa bờ nhằm tăng cường năng lực và hiệu quả khai thác của từng nghề, góp phần nâng cao đời sống của ngư dân.
LỜI CÁM ƠN
Bài báo thuộc thể loại nghiên cứu được viết dựa trên kết quả đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ, đội tàu khai thác thủy sản trên biển xa phù hợp với nghề cá hiện nay của tỉnh Ninh Thuận” theo đặt hàng của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPUE - Catch Per Unit Effort: Năng suất khai thác
GA - Genetic Algorithm: Thuật toán di truyền
GAMS - General Algebraic Modeling System
TUYÊN BỐ VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Tác giả xin cam kết là không có sự xung đột lợi ích nào trong việc công bố bài báo này. Nếu có bất kỳ xung đột lợi ích nào phát sinh, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với bài báo.
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Tác giả xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng mình và chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với nội dung bài báo.